HỢP ĐỒNG VAY TÀI SẢN
Câu hỏi của bạn:
Thưa Luật sư, tôi đự định sẽ tham gia vào một hợp đồng vay tài sản với đối tác làm ăn. Đối với loại hợp đồng này, nó được quy định trong Bộ luật dân sự 2015. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế nên tôi cũng chưa thể nắm bắt được hết cũng như hiểu được hết về nó. Vậy, Luật sư có thể tư vấn giúp tôi những nội dung cần lưu ý của loại hợp đồng này được không ạ?
Tôi xin chân thành cảm ơn ./.
LUẬT SƯ TRẢ LỜI CÂU HỎI CỦA BẠN:
Giao dịch vay tài sản là một loại giao dịch rất phổ biến trong đời sống xã hội nhất là các giao dịch vay có đối tượng là tiền. Giao dịch vay tài sản hay hợp đồng vay tài sản được quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Điều 463 BLDS 2015 định nghĩa về Hợp đồng vay tài sản như sau:
Điều 463. Hợp đồng vay tài sản
Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Giao dịch vay tài sản là một loại giao dịch chứa đựng nhiều rủi ro nhất định cho các chủ thể tham gia. Vì vậy, khi tham gia vào giao dịch vay tài sản, các bên tham gia giao dịch cần phải lưu ý những nội dung sau:
Lãi là một khoản tiền mà bên vay phải trả cho bên cho vay cùng với tài sản vay được coi như là phần đền bù đối với bên cho vay. Lãi suất thuộc về nội dung của hợp đồng vay nên pháp luật quy định do các bên thỏa thuận. Tuy nhiên để đấu tranh phòng ngừa hành vi cho vay lãi nặng lãi cao, Bộ luật Dân sự quy định mức lãi suất tính trên số tiền vay tối đa đối với các hợp đồng vay là 20%/ năm. Cụ thể, BLDS 2015 quy định như sau:
Điều 468. Lãi suất
Trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác. Căn cứ tình hình thực tế và theo đề xuất của Chính phủ, Ủy ban thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh mức lãi suất nói trên và báo cáo Quốc hội tại kỳ họp gần nhất.
Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.
Tiền lãi là lượng tài chính tăng thêm ngoài vốn vay mà bên vay phải trả cho bên cho vay. Tiền lãi được tính từ tiền lãi trong hạn bằng cách lấy số tiền gốc vay nhân với phần trăm lãi suất và nhân với thời hạn vay.
Ngoài ra, tiền lãi có thể còn bao gồm tiền lãi quá hạn được tính bằng cách lấy số tiền gốc dư nợ cuối nhân với thời gian quá hạn và nhân với lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.
Như vậy, theo quy định trên có nghĩa là nếu bạn cho vay 100 triệu trong vòng 01 năm thì tiền lãi tối đa bạn thu được cao nhất là 20 triệu, không thể cao hơn được. Nếu hợp đồng vay quy định mức lãi suất cao hơn 20%/năm thì phần cao hơn đó vô hiệu, nghĩa là nếu các bên cho nhau vay với lãi suất là 30%, 40%/năm hay cao hơn nữa thì cuối cùng vẫn chỉ được tính lãi 20%/ năm mà thôi.
Hành vi cho vay nặng lãi có thể bị xử lý về hành chính và hình sự theo mức độ. Về xử phạt vi phạm hành chính, theo Nghị định 167/2013/NĐ-CP, hành vi cho vay tiền có cầm cố nhưng lãi suất vượt quá 1.5 lần mức lãi suất quy định tại thời điểm cho vay thì bị phạt tiền từ 05 đến 15 triệu đồng đối với cá nhân là 10 đến 30 triệu đồng đối với tổ chức. Hành vi cho vay nặng lãi còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự, căn cứ Điều 201 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, hành vi cho vay với lãi suất gấp 05 lần trở lên đối với mức lãi suất tối đa quy định và thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên hoặc dưới 30 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này mà chưa được xóa án tích được coi là tội phạm. Hình phạt cao nhất cho hành vi này là 03 năm tù. Nói chung là mức xử phạt còn khá nhẹ và điều đó phần nào dẫn đến tình trạng cho vay nặng lãi hay “tín dụng đen” trở nên nhức nhối. Đặc biệt là tình trạng cho vay nợ cờ bạc, lô đề với lãi suất rất cao, tính theo ngày có thể lên đến 5 – 7%/ngày. Hiện nay còn xuất hiện nhiều hình thức cho vay trực tuyến qua các ứng dụng hoặc qua mạng xã hội mà người vay không thể lường trước được việc “lãi mẹ đẻ lãi con” và số tiền lãi phải thanh toán qua một thời gian ngắn đã vượt quá số tiền gốc.
2.2 Hợp đồng vay tài sản có kỳ hạn và không có kỳ hạn
Hợp đồng vay có kỳ hạn là hợp đồng vay mà các bên có thỏa thuận về thời điểm trả nợ hay thời hạn vay. Đối với hợp đồng vay có kỳ hạn và có lãi thì bên vay có thể trả lại nợ gốc trước kỳ hạn nhưng phải trả lãi theo toàn bộ thời hạn vay trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Nếu vay có kỳ hạn và không có lãi thì đến thời hạn bên vay mới phải trả nợ gốc.
Điều 470 BLDS 2015 quy định về hợp đồng có kỳ hạn như sau:
Điều 470. Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn
Hợp đồng vay không có kỳ hạn là hợp đồng mà các bên không thỏa thuận về thời hạn vay. Trong hợp đồng vay không kỳ hạn thì bên vay có quyền trả lại tài sản bất cứ lúc nào và bên cho vay cũng có quyền đòi lại tài sản bất cứ lúc nào nhưng phải báo trước cho bên kia một khoảng thời gian hợp lý. Nếu hợp đồng vay không kỳ hạn và không có lãi thì bên vay phải trả lãi đến thời điểm trả lại nợ gốc.
Điều 469 BLDS 2015 quy định về hợp đồng không có kỳ hạn như sau:
Điều 469. Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn
2.3 Biện pháp bảo đảm nghĩa vụ nghĩa vụ thực hiện hợp đồng vay
Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ là các biện pháp mang tính dự phòng cho bên cho vay để nếu bên vay không trả lại tài sản hoặc trả không đầy đủ cả về nợ gốc và lãi (nếu có) thì các biện pháp này sẽ đảm bảo quyền lợi cho bên cho vay, để bên vay không bị thiệt hại về tài sản. Bộ luật Dân sự quy định 09 biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ tại Điều 292 như sau:
Điều 292. Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ bao gồm:
Những biện pháp thường được các bên áp dụng và với nội dung của nó có thể áp dụng cho hợp đồng vay là thế chấp tài sản, cầm cố tài sản, bảo lãnh. Đối với hai biện pháp là thế chấp và cầm cố tài sản thì bên vay phải lấy một tài sản thuộc sở hữu của mình để làm tin cho bên vay, nếu bên cho vay không trả được tiền thì bên cho vay có quyền thực hiện xử lý tài sản đó để bù đắp vào phần nghĩa vụ trả nợ chưa hoàn thành của bên vay. Biện pháp xử lý có thể là bán đấu giá, tự bán hoặc lấy chính tài sản bảo đảm để bù đắp nghĩa vụ còn thiếu. Còn bảo lãnh là việc một người thứ ba cam kết với bên cho vay là nếu bên vay không trả được hết nợ thì người đó sẽ thực hiện nghĩa vụ mà bên vay chưa hoàn thành thay cho bên vay.
2.4 Trường hợp bên vay không chịu trả lại tài sản vay
Thứ nhất, về nghĩa vụ trả lại tài sản,
BLDS 2015 quy định tại Điều 466 như sau:
Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay
Như vậy, trả lại tài sản vay là một trong những nghĩa vụ mà bên vay phải thực hiện.
Thứ hai, trách nhiệm của bên vay nếu không trả lại tài sản.
Trường hợp bên vay có điều kiện mà đến hạn không trả lại tài sản vay, có ý trốn tránh nghĩa vụ trả nợ hoặc sử dụng tài sản vay vào mục đích trái pháp luật dẫn đến không có điều kiện trả mà tài sản phải trả từ 4 triệu đồng trở lên hoặc dưới 4 triệu đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc bị kết tội về hành vi chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích hoặc tài sản chiếm đoạt là phương tiện kiếm sống chính của người cho vay và gia đình họ thì bên vay đã phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015. Mức phạt cao nhất lên đến 20 năm tù.
Hợp đồng vay tài sản có tác dụng giúp cho bên vay giải quyết những khó khăn kinh tế trước mắc, giúp các doanh nghiệp khắc phục khó khăn khi thiếu vốn để sản xuất và lưu thông hàng hóa, phục vụ nhu cầu tiêu dùng của con người, nhu cầu kinh doanh của các doanh nghiệp. Hợp đồng vay tài sản trong nhân dân thường mang tính chất tương trợ giúp đỡ lẫn nhau để giải quyết những khó khăn tạm thời trong cuộc sống, sản xuất, kinh doanh. Những rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng vay tài sản là không thể tránh khỏi, và những tranh chấp hoàn toàn có thể xảy ra. Trên đây là một số lưu ý bạn cần phải nắm bắt để hạn chế thấp nhất những thiệt hại không đáng có.
LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN:
ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM