Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, không phải mọi vụ việc đều được Tòa án đưa ra xét xử và ban hành bản án. Trên thực tế, có nhiều trường hợp Tòa án phải ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đây là một chế định quan trọng nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng pháp luật, tránh kéo dài thời gian tố tụng không cần thiết và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Vậy đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là gì? Những trường hợp nào Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án? Hậu quả pháp lý của việc đình chỉ ra sao? Hãy cùng Công ty Luật Trường Nhựt tìm hiểu chi tiết qua bài viết dưới đây.

Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án ra quyết định chấm dứt quá trình giải quyết vụ án khi xuất hiện các căn cứ theo quy định pháp luật khiến vụ án không thể hoặc không cần tiếp tục giải quyết.
Sau khi có quyết định đình chỉ, vụ án dân sự sẽ kết thúc ở giai đoạn tố tụng tương ứng và Tòa án không tiếp tục xem xét nội dung tranh chấp nữa, trừ một số trường hợp pháp luật cho phép khởi kiện lại.
Căn cứ pháp lý chủ yếu điều chỉnh vấn đề này gồm:
Theo Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án sẽ ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự trong các trường hợp sau:
Đây là trường hợp khá phổ biến trong thực tiễn tố tụng dân sự.
Nếu một bên đương sự chết nhưng quyền và nghĩa vụ liên quan đến vụ án không được phép chuyển giao cho người thừa kế thì vụ án không còn chủ thể để tiếp tục giải quyết. Khi đó, Tòa án sẽ đình chỉ vụ án.
Ông A khởi kiện yêu cầu xin lỗi công khai vì bị xúc phạm danh dự. Trong quá trình giải quyết vụ án, ông A qua đời. Quyền yêu cầu xin lỗi công khai là quyền nhân thân gắn liền với cá nhân nên không được thừa kế. Vì vậy, Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án.
Điểm a Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khi một doanh nghiệp, cơ quan hoặc tổ chức tham gia vụ án bị giải thể hoặc phá sản và không còn đơn vị kế thừa quyền, nghĩa vụ thì vụ án cũng không thể tiếp tục giải quyết.
Công ty A khởi kiện Công ty B yêu cầu thanh toán nợ. Trong quá trình giải quyết, Công ty B bị giải thể hoàn toàn và không có pháp nhân kế thừa nghĩa vụ. Khi đó, Tòa án có thể đình chỉ vụ án.
Điểm b Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Đây là trường hợp rất thường gặp trên thực tế.
Theo quy định pháp luật, nếu nguyên đơn tự nguyện rút toàn bộ yêu cầu khởi kiện thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án.
Ngoài ra, nếu nguyên đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì được xem là từ bỏ việc khởi kiện.
Nguyên đơn nộp đơn ly hôn đơn phương nhưng sau đó hai bên hòa giải đoàn tụ nên người khởi kiện rút đơn. Khi đó, Tòa án ra quyết định đình chỉ vụ án ly hôn.
Hoặc trường hợp nguyên đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ hai lần để tham gia phiên tòa nhưng đều không có mặt mà không có lý do chính đáng thì vụ án cũng bị đình chỉ.
Điểm c Khoản 1 Điều 217; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Khi doanh nghiệp hoặc hợp tác xã đã bị mở thủ tục phá sản thì nhiều tranh chấp sẽ được giải quyết theo thủ tục phá sản thay vì thủ tục tố tụng dân sự thông thường.
Do đó, Tòa án đang giải quyết vụ án dân sự có thể đình chỉ vụ án để chuyển sang giải quyết theo quy định của pháp luật phá sản.
Điểm d Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Trong một số vụ án, Tòa án yêu cầu đương sự phải tạm ứng chi phí định giá tài sản, giám định, xem xét thẩm định tại chỗ hoặc các chi phí tố tụng khác.
Nếu nguyên đơn không thực hiện nghĩa vụ này dù đã được yêu cầu hợp lệ thì Tòa án có quyền đình chỉ giải quyết vụ án.
Trong vụ tranh chấp đất đai, Tòa án yêu cầu nguyên đơn nộp tạm ứng chi phí đo đạc, định giá đất nhưng nguyên đơn không thực hiện. Khi đó, vụ án có thể bị đình chỉ.
Điểm đ Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.
Theo quy định của Bộ luật Dân sự, nhiều tranh chấp có thời hiệu khởi kiện. Nếu hết thời hiệu và bị đơn hoặc đương sự có yêu cầu áp dụng thời hiệu thì Tòa án có thể đình chỉ giải quyết vụ án.
Tranh chấp hợp đồng vay tài sản đã quá thời hiệu khởi kiện theo luật định và bị đơn có yêu cầu áp dụng thời hiệu trước khi Tòa sơ thẩm ra bản án.
Điểm e Khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
Bộ luật Dân sự 2015.
Ngoài các trường hợp nêu trên, pháp luật còn quy định nhiều tình huống khác dẫn đến việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
Điều 192, Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 và các văn bản liên quan.
Khi Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thì phát sinh nhiều hậu quả pháp lý quan trọng mà đương sự cần lưu ý.
Khi có quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, đương sự không có quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự đó, nếu việc khởi kiện vụ án sau không có gì khác với vụ án trước về nguyên đơn, bị đơn và quan hệ pháp luật có tranh chấp, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 192, điểm c khoản 1 Điều 217 của Bộ luật dân sự 2015 và các trường hợp khác theo quy định của pháp luật.
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật dân sự 2015
Không phải mọi trường hợp đình chỉ đều mất quyền khởi kiện lại.
Theo khoản 1 Điều 218 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, đương sự vẫn có quyền khởi kiện lại nếu thuộc các trường hợp:
Tuy nhiên, với một số trường hợp như hết thời hiệu khởi kiện và có yêu cầu áp dụng thời hiệu thì có thể không được khởi kiện lại.
Khi vụ án bị đình chỉ, việc xử lý tiền tạm ứng án phí sẽ tùy từng trường hợp cụ thể.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14.
Nhiều người thường nhầm lẫn giữa “đình chỉ” và “tạm đình chỉ” giải quyết vụ án dân sự.
| Tiêu chí | Đình chỉ | Tạm đình chỉ |
|---|---|---|
| Bản chất | Chấm dứt giải quyết vụ án | Tạm ngưng giải quyết |
| Hậu quả | Vụ án kết thúc | Có thể tiếp tục giải quyết |
| Khởi kiện lại | Có thể hoặc không | Không cần khởi kiện lại |
| Căn cứ pháp lý | Điều 217 BLTTDS | Điều 214 BLTTDS |
Việc phân biệt đúng hai khái niệm này giúp đương sự hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình trong quá trình tố tụng.
Để tránh vụ án bị đình chỉ gây mất thời gian và ảnh hưởng quyền lợi, người khởi kiện cần lưu ý:
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là một chế định quan trọng trong tố tụng dân sự nhằm bảo đảm việc giải quyết vụ án đúng quy định pháp luật và tránh kéo dài quá trình tố tụng không cần thiết. Tùy từng trường hợp cụ thể mà đương sự có thể hoặc không thể khởi kiện lại sau khi vụ án bị đình chỉ.
Do đó, khi tham gia tố tụng dân sự, cá nhân và tổ chức cần nắm rõ các căn cứ đình chỉ vụ án để chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Nếu bạn đang gặp khó khăn trong quá trình khởi kiện, giải quyết tranh chấp dân sự hoặc cần luật sư tư vấn chuyên sâu, hãy liên hệ ngay với Công ty Luật Trường Nhựt để được hỗ trợ nhanh chóng và hiệu quả.
LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN:
ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM