Trong thực tế, việc cho vay, mượn tiền giữa người thân, bạn bè, đồng nghiệp hoặc hàng xóm thường được thực hiện trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau mà không lập giấy vay tiền hay hợp đồng bằng văn bản. Nhiều trường hợp chỉ thỏa thuận bằng lời nói, chuyển tiền qua tài khoản hoặc giao tiền mặt mà không có giấy tờ xác nhận.
Đến khi người vay không trả tiền hoặc cố tình trốn tránh nghĩa vụ, người cho vay mới lo lắng vì cho rằng không có giấy vay thì sẽ không thể khởi kiện để đòi lại tài sản.
Vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam, việc cho mượn tiền chỉ bằng lời nói có được pháp luật công nhận hay không? Không có giấy vay tiền thì có thể khởi kiện đòi nợ được không? Hãy cùng Công ty Luật Trường Nhựt tìm hiểu qua bài viết dưới đây.
Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến hợp đồng vay tài sản được điều chỉnh chủ yếu bởi các văn bản sau:

Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự năm 2015, Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.
Đáng chú ý, Bộ luật Dân sự không quy định hợp đồng vay tiền bắt buộc phải được lập thành văn bản, trừ trường hợp pháp luật chuyên ngành có quy định khác.
Theo Điều 119 Bộ luật Dân sự năm 2015, giao dịch dân sự có thể được xác lập bằng:
Như vậy, việc vay tiền bằng lời nói vẫn có giá trị pháp lý, nếu các bên đã thống nhất về việc vay và việc giao nhận tiền thực tế đã xảy ra.
Câu trả lời là có.
Trên thực tế, rất nhiều vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản được Tòa án thụ lý mặc dù người cho vay không có giấy vay tiền.
Điều quan trọng không phải là có giấy vay hay không, mà là người khởi kiện có chứng minh được việc giao dịch vay tiền đã phát sinh hay không.
Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự có yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình phải có nghĩa vụ thu thập, giao nộp và chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp.
Do đó, nếu người cho vay cung cấp được các chứng cứ chứng minh đã giao tiền và bên vay có nghĩa vụ hoàn trả thì vẫn có căn cứ để Tòa án xem xét, giải quyết.
Trong trường hợp không có giấy vay tiền, người cho vay vẫn có thể sử dụng nhiều loại chứng cứ khác nhau.
Các tin nhắn qua Zalo, Messenger, SMS, Viber hoặc email thể hiện nội dung vay tiền, hứa trả tiền, xin khất nợ… đều có thể được xem là chứng cứ nếu đáp ứng điều kiện theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp này, chúng ta nên lập vi bằng các chứng cứ trên để bằng chứng đủ tính thuyết phục , có căn cứ để Toà án thụ lý đơn khởi kiện.
Nếu việc giao tiền được thực hiện bằng hình thức chuyển khoản thì sao kê tài khoản ngân hàng là chứng cứ rất quan trọng.
Đặc biệt, nếu nội dung chuyển khoản ghi rõ:
thì giá trị chứng minh sẽ cao hơn.
Các bản ghi âm cuộc nói chuyện hoặc video thể hiện việc người vay thừa nhận khoản nợ cũng có thể được Tòa án xem xét nếu được thu thập hợp pháp.
Nếu có người trực tiếp chứng kiến việc giao nhận tiền hoặc việc các bên thỏa thuận vay tiền thì lời khai của người làm chứng cũng là nguồn chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Ví dụ:
Theo Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015, bên vay có nghĩa vụ:
Nếu đã đến hạn mà người vay không trả tiền hoặc cố tình kéo dài thời gian trả nợ thì được xem là vi phạm nghĩa vụ dân sự và phải chịu trách nhiệm theo quy định của pháp luật.
Ngoài việc phải hoàn trả số tiền gốc, trong nhiều trường hợp người vay còn phải trả lãi chậm trả hoặc bồi thường thiệt hại nếu có căn cứ.
Theo Điều 429 Bộ luật Dân sự năm 2015, thời hiệu khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền biết hoặc phải biết quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm.
Ví dụ:
Thời hiệu khởi kiện thông thường sẽ được tính từ thời điểm nghĩa vụ trả tiền bị vi phạm, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
Do đó, người cho vay nên tiến hành yêu cầu thanh toán hoặc khởi kiện càng sớm càng tốt để bảo đảm quyền lợi của mình.
Khi khởi kiện yêu cầu trả tiền vay, người khởi kiện cần chuẩn bị:
Tùy từng vụ việc, Tòa án có thể yêu cầu bổ sung tài liệu hoặc tiến hành thu thập chứng cứ theo quy định.
Việc tính lãi phụ thuộc vào nội dung thỏa thuận giữa các bên.
Nếu hai bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất được áp dụng nhưng không được vượt quá mức trần do Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định, trừ trường hợp luật khác có liên quan quy định khác.
Nếu không có thỏa thuận về lãi nhưng bên vay chậm thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì người cho vay vẫn có thể yêu cầu Tòa án xem xét áp dụng quy định về lãi chậm trả theo Bộ luật Dân sự khi đủ điều kiện.
Để hạn chế rủi ro, người dân nên:
Việc chuẩn bị đầy đủ chứng cứ ngay từ đầu sẽ giúp bảo vệ quyền lợi của người cho vay và tạo thuận lợi trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án.
Pháp luật Việt Nam không bắt buộc hợp đồng vay tiền phải được lập thành văn bản, vì vậy việc cho mượn tiền bằng lời nói vẫn có thể làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa các bên nếu đáp ứng điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự.
Do đó, không có giấy vay tiền không đồng nghĩa với việc không thể khởi kiện. Nếu người cho vay có đủ chứng cứ chứng minh việc giao tiền và nghĩa vụ trả nợ của bên vay, Tòa án vẫn có thể xem xét, giải quyết và buộc bên vay thực hiện nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Nếu Quý khách đang gặp khó khăn trong việc đòi nợ, khởi kiện tranh chấp hợp đồng vay tài sản hoặc thu thập chứng cứ để bảo vệ quyền lợi của mình, hãy liên hệ Công ty Luật Trường Nhựt để được đội ngũ luật sư tư vấn, đánh giá hồ sơ và hỗ trợ giải quyết vụ việc một cách nhanh chóng, đúng quy định pháp luật và bảo đảm tối đa quyền, lợi ích hợp pháp của Quý khách.
👉 LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN:
ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM