Giỏ hàng

CON CHƯA SINH RA CÓ ĐƯỢC HƯỞNG MỘT SUẤT THỪA KẾ KHI NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN ĐÃ QUA ĐỜI HAY KHÔNG?

01/06/2026
Tin tức

Khi một người qua đời để lại di sản thừa kế, việc xác định ai là người được hưởng di sản là vấn đề quan trọng và thường phát sinh nhiều tranh chấp trong thực tế. Một trong những tình huống đặc biệt được nhiều người quan tâm là trường hợp người thừa kế còn đang trong bụng mẹ tại thời điểm người để lại di sản chết. Vậy theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành, con chưa sinh ra có được hưởng một suất thừa kế hay không? Bài viết dưới đây của Công ty Luật Trường Nhựt sẽ phân tích cụ thể quy định pháp luật liên quan đến vấn đề này.

1. Quyền thừa kế là gì?

Thừa kế là việc chuyển dịch tài sản, quyền và nghĩa vụ tài sản của người đã chết cho những người còn sống. Tài sản để lại được gọi là di sản. 

Theo Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật.”

Như vậy, người để lại di sản có quyền chỉ định người thừa kế bằng di chúc hoặc nếu không có di chúc thì di sản sẽ được chia theo quy định của pháp luật.

2. Điều kiện để được hưởng di sản thừa kế

Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định:

“Người thừa kế là cá nhân phải là người còn sống vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã thành thai trước khi người để lại di sản chết. Trường hợp người thừa kế theo di chúc không là cá nhân thì phải tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.”

Theo quy định trên, người được hưởng di sản thừa kế không nhất thiết phải đã được sinh ra vào thời điểm người để lại di sản qua đời.

Pháp luật công nhận quyền thừa kế của thai nhi nếu đáp ứng đồng thời các điều kiện:

  • Đã được thành thai trước khi người để lại di sản chết;
  • Được sinh ra sau thời điểm mở thừa kế;
  • Khi sinh ra phải còn sống.

Đây là quy định thể hiện tính nhân văn của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của trẻ em ngay từ khi còn trong bụng mẹ.

3. Thời điểm mở thừa kế được xác định như thế nào?

Theo Điều 611 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết.”

Ví dụ:

Ông A chết ngày 01/01/2026.

Tại thời điểm này, con dâu của ông A đang mang thai được 05 tháng.

Đến ngày 01/05/2026, cháu nội của ông A được sinh ra khỏe mạnh.

Trong trường hợp này, mặc dù cháu nội chưa được sinh ra tại thời điểm ông A chết nhưng do đã thành thai trước ngày 01/01/2026 và sinh ra còn sống nên vẫn được xác định là người thừa kế của ông A theo quy định pháp luật.

4. Thai nhi có được hưởng một suất thừa kế ngang bằng với những người thừa kế khác hay không?

Câu trả lời là có.

Khi đáp ứng đầy đủ điều kiện theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, thai nhi sau khi được sinh ra còn sống sẽ được hưởng phần di sản tương ứng như những người thừa kế khác cùng hàng thừa kế.

Ví dụ:

Ông B chết không để lại di chúc.

Hàng thừa kế thứ nhất của ông B gồm:

  • Vợ;
  • Con trai C;
  • Con gái D;
  • Người con đang được bà E mang thai.

Tại thời điểm ông B chết, bà E đang mang thai 07 tháng.

Sau đó đứa trẻ được sinh ra khỏe mạnh.

Trong trường hợp này, di sản của ông B sẽ được chia đều cho 04 người con và người vợ thuộc hàng thừa kế thứ nhất.

Người con được sinh ra sau khi ông B chết vẫn được hưởng một phần di sản ngang bằng với các anh chị em khác.

5. Pháp luật quy định như thế nào về việc dành lại phần di sản cho thai nhi?

Trong thực tế, việc chia di sản thường được thực hiện khi người mẹ vẫn đang mang thai. Để bảo vệ quyền lợi của thai nhi, pháp luật đã có quy định riêng.

Theo khoản 1 Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015:

“ Khi phân chia di sản, nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.”

Quy định này có ý nghĩa rất quan trọng.

Theo đó, trước khi tiến hành chia di sản, những người thừa kế phải xác định có hay không trường hợp thai nhi đã thành thai trước thời điểm mở thừa kế.

Nếu có, phần di sản tương ứng của thai nhi phải được tạm thời giữ lại.

Sau khi đứa trẻ được sinh ra:

Trường hợp thứ nhất: Sinh ra còn sống

Đứa trẻ sẽ được nhận phần di sản đã được dành lại.

Trường hợp thứ hai: Thai chết lưu hoặc chết trước khi sinh ra

Phần di sản đã dành lại sẽ được chia cho các đồng thừa kế còn lại theo quy định pháp luật.

6. Con chưa sinh ra có được hưởng thừa kế theo di chúc không?

Câu trả lời là có.

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015, người lập di chúc có quyền chỉ định người thừa kế.

Nếu tại thời điểm lập di chúc hoặc tại thời điểm người để lại di sản chết đã có thai nhi được thành thai thì thai nhi vẫn có thể trở thành người thừa kế theo di chúc.

Ví dụ:

Ông X lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho các cháu nội của mình.

Tại thời điểm ông X qua đời, con trai của ông X có vợ đang mang thai 06 tháng.

Sau khi sinh ra, đứa trẻ còn sống.

Nếu nội dung di chúc xác định toàn bộ cháu nội, cháu ngoại đều được hưởng di sản thì người cháu được sinh ra sau thời điểm ông X chết vẫn có quyền nhận phần thừa kế theo di chúc.

7. Trường hợp thai nhi không được hưởng di sản thừa kế

Không phải mọi trường hợp con sinh ra sau khi người để lại di sản chết đều được hưởng thừa kế.

Một số trường hợp không đủ điều kiện hưởng di sản gồm:

Chưa được thành thai trước thời điểm mở thừa kế

Ví dụ:

Ông M chết ngày 01/01/2026.

Đến tháng 03/2026, con trai ông M mới có con.

Đứa trẻ này không được xem là đã thành thai trước khi ông M chết nên không có quyền hưởng di sản của ông M.

Thai chết trước khi sinh ra

Nếu thai nhi chết lưu hoặc chết trong bụng mẹ trước khi được sinh ra thì không đáp ứng điều kiện “sinh ra và còn sống” theo Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Khi đó, phần di sản đã được dành lại sẽ được chia cho những người thừa kế khác.

Thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản

Điều 621 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định một số trường hợp không được quyền hưởng di sản như cố ý xâm phạm tính mạng người để lại di sản, giả mạo di chúc...

Tuy nhiên, trên thực tế quy định này hầu như không đặt ra đối với thai nhi.

8. Ý nghĩa của quy định bảo vệ quyền thừa kế của thai nhi

Việc pháp luật công nhận quyền hưởng di sản của người đã thành thai nhưng chưa sinh ra có ý nghĩa rất lớn:

  • Bảo đảm quyền tài sản hợp pháp của trẻ em.
  • Bảo vệ lợi ích của người chưa có khả năng tự bảo vệ quyền lợi của mình.
  • Thể hiện nguyên tắc nhân đạo của pháp luật dân sự Việt Nam.
  • Hạn chế tranh chấp thừa kế giữa các thành viên trong gia đình.
  • Đảm bảo sự công bằng giữa những người cùng hàng thừa kế.

Đây là cơ chế pháp lý quan trọng nhằm bảo vệ quyền lợi của trẻ em ngay từ khi còn trong giai đoạn bào thai.

9. Kết luận

Theo quy định tại Điều 613 Bộ luật Dân sự năm 2015, con chưa sinh ra vẫn được hưởng một suất thừa kế nếu đã thành thai trước thời điểm người để lại di sản chết và được sinh ra còn sống sau thời điểm mở thừa kế. Khi tiến hành phân chia di sản, những người thừa kế phải dành lại một phần di sản tương ứng cho thai nhi theo quy định tại Điều 660 Bộ luật Dân sự năm 2015. Sau khi đứa trẻ được sinh ra còn sống, phần di sản này sẽ thuộc quyền sở hữu của người con đó như các đồng thừa kế khác.

Nếu Quý khách hàng có vướng mắc liên quan đến thừa kế, phân chia di sản, tranh chấp quyền thừa kế hoặc các vấn đề pháp lý khác về dân sự và hôn nhân gia đình, hãy liên hệ Công ty Luật Trường Nhựt để được luật sư tư vấn và hỗ trợ kịp thời.

Nếu Quý khách hàng đang gặp vướng mắc liên quan đến tranh chấp nhà đất, hợp đồng tặng cho, thừa kế hoặc sang tên quyền sử dụng đất, hãy liên hệ Công ty Luật Trường Nhựt để được hỗ trợ và tư vấn kịp thời theo đúng quy định pháp luật.

LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN:

  • Liên hệ để tư vấn: 0979.896.941 – 0939.324.310 Gặp Luật sư Nguyễn Trường Nhựt
  • Liên hệ qua địa chỉ email: nguyentruongnhutlaw@gmail.com
  • Đến trực tiếp trụ sở của công ty: 97 Lê Quyên, Phường Chánh Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh.
0.0           0 đánh giá
0% | 0
0% | 0
0% | 0
0% | 0
0% | 0
CON CHƯA SINH RA CÓ ĐƯỢC HƯỞNG MỘT SUẤT THỪA KẾ KHI NGƯỜI ĐỂ LẠI DI SẢN ĐÃ QUA ĐỜI HAY KHÔNG?

Cám ơn bạn đã gửi đánh giá cho chúng tôi! Đánh giá của bạn sẻ giúp chúng tôi cải thiện chất lượng dịch vụ hơn nữa.

Gửi ảnh thực tế

Chỉ chấp nhận JPEG, JPG, PNG. Dung lượng không quá 2Mb mỗi hình

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

  • Lọc theo:
  • Tất cả
  • 1
  • 2
  • 3
  • 4
  • 5
Chia sẻ

Bài viết liên quan

DỊCH VỤ DỊCH THUẬT GIẤY TỜ PHÁP LÝ CHUYÊN NGHIỆP – CHÍNH XÁC, BẢO MẬT, NHANH CHÓNG

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, các cá nhân và doanh nghiệp thường xuyên phải sử dụng các loại giấy tờ pháp lý bằng nhiều ngôn ngữ khác nhau. Từ hợp đồng thương mại, hồ sơ đầu tư, hồ sơ kết hôn với người nước ngoài cho đến các văn bản pháp luật quốc tế – tất cả đều đòi hỏi phải được dịch thuật chính xác, rõ nghĩa và đúng thuật ngữ pháp lý để đảm bảo giá trị sử dụng và giá trị pháp lý của tài liệu. Tuy nhiên, dịch thuật tài liệu pháp luật không giống như dịch thuật thông thường. Mỗi câu chữ trong văn bản pháp lý đều mang ý nghĩa pháp lý cụ thể, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và nghĩa vụ của các bên liên quan. Chỉ cần dịch sai một thuật ngữ hoặc một điều khoản cũng có thể dẫn đến hiểu sai nội dung văn bản, gây tranh chấp hoặc làm phát sinh rủi ro pháp lý nghiêm trọng. Chính vì vậy, việc lựa chọn dịch vụ dịch thuật giấy tờ pháp lý của một công ty luật chuyên nghiệp là giải pháp an toàn và hiệu quả giúp đảm bảo tài liệu được dịch chính xác, đúng quy định pháp luật và có thể sử dụng trong các thủ tục hành chính hoặc giao dịch quốc tế.